Kiểm soát thông tin kế toán tại doanh nghiệp xây lắp niêm yết trên thị trường chứng khoán



Hệ thống thông tin kế toán bao gồm các thành phần cấu thành hệ thống được tổ chức khoa học nhằm thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán cho các đối tượng sử dụng thông tin khác nhau trong và ngoài doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình vận hành hệ thống này lại tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, vì vậy kiểm soát hệ thống là một trong những khâu không thể thiếu.

Thực trạng kiểm soát hệ thống thông tin kế toán tại một số doanh nghiệp xây lắp

Khảo sát thực tế tại 46 công ty cổ phần xây lắp niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) cho thấy, tất cả các doanh nghiệp (DN) đều sử dụng phần mềm kế toán để hỗ trợ cho công tác kế toán; chú trọng áp dụng các chính sách, thủ tục, thực hiện việc kiểm soát và an toàn cho hệ thống thông tin kế toán (TTKT).

Kiểm soát chung

Phân quyền khai thác sử dụng nhằm ngăn chặn người không có quyền hạn và nhiệm vụ xâm nhập hệ thống. Trong phần lớn các phần mềm được khảo sát đều có thiết lập vấn đề bảo mật. Hầu hết các phần mềm đều thiết lập mật khẩu theo từng người sử dụng.

Ở tất cả các DN khảo sát không phân biệt quy mô, khối lượng công việc, số lượng kế toán trong phòng kế toán, người có quyền cao nhất (thường là kế toán trưởng) được phép sử dụng tính năng “phân quyền và quản trị kế toán” trong hệ thống kế toán để thiết lập, thêm, xóa hoặc sửa trong phần mềm.

Thông thường tại các DN, việc phân quyền cho người sử dụng chương trình là các kế toán tương ứng theo các phân hệ kế toán, như: Kế toán vật tư, kế toán tài sản cố định, kế toán tiền lương, kế toán thuế, kế toán thanh toán, kế toán tổng hợp…

Qua khảo sát có 41/46 công ty, người thực hiện chức năng quản trị - kế toán trưởng (hoặc phó phòng kế toán) thường được phân quyền dưới dạng toàn quyền, tức là có thể xem, nhập, sửa dữ liệu của toàn bộ phòng kế toán; Đối với những người dùng khác như nhân viên kế toán, thì chỉ được phép nhập/sửa dữ liệu kế toán liên quan đến phần hành mà mình phụ trách.

Một số rất ít công ty còn lại, phần mềm kế toán tuy có chức năng quản trị người dùng sang DN lại không thực hiện hạn chế người dùng. Do vậy, họ có thể “toàn quyền” sử dụng dữ liệu trong hệ thống kế toán như: Công ty cổ phần HUD 1, Công ty cổ phần xây dựng 47…

Kết quả khảo sát cũng cho thấy, dữ liệu được nhập vào phần mềm theo từng phân hệ, giữa phân hệ này với phân hệ khác lại có mối liên kết với nhau thông qua mối liên hệ truyền – nhận thông tin. Mối liên kết truyền – nhận được đặt mặc định trong phần mềm kế toán. Ví dụ: Phân hệ kế toán công nợ (phải thu và phải trả).

Thông tin đầu vào của phân hệ này là dữ liệu lấy từ các hóa đơn mua hàng, vật tư, tài sản của nhà cung cấp, các chi phí khác, chứng từ thanh toán với nhà cung cấp, các khoản thanh toán của khách hàng, chênh lệch tỷ giá… Thông tin đầu ra là bảng kê các khoản phải thu, phải trả, sổ chi tiết nợ phải thu, nợ phải trả của từng khách hàng, nhà cung cấp…

Phân hệ này có liên kết với các phân hệ khác, bởi do nó nhận thông tin liên quan về các khoản phải thu và phải trả từ phân hệ kế toán mua hàng, như: vật tư, vốn bằng tiền… từ đó, chuyển số liệu cho phân hệ kế toán tổng hợp. Do vậy, giữa những người dùng (kế toán các phần hành) khác nhau có thể thực hiện đối chiếu và kiểm tra chéo nhau để đảm bảo tính thống nhất, chính xác, hạn chế sai sót, trùng lặp, bỏ sót nghiệp vụ… (Xem hình bên dưới).

Vì vậy, ở các DN khảo sát, việc kiểm tra kế toán được thực hiện ngoài kế toán trưởng/phó phòng kế toán, thì còn được thực hiện bởi chính nhân viên kế toán trong quá trình nhập liệu và kiểm tra chéo giữa các kế toán thuộc các phần hành.

Kiểm soát ứng dụng

- Về kiểm soát nhập liệu: Ở tất cả các DN khảo sát, phần mềm kế toán của DN có sự kiểm soát ngay từ khâu nhập liệu thông qua việc yêu cầu người nhập liệu xác nhận những bút toán, định khoản, giống về số lượng, số tiền… khi kết chuyển dữ liệu. Khâu kiểm soát nhập liệu sẽ hạn chế, giảm thiểu được những sai sót, đảm bảo tính chính xác của dữ liệu đầu vào.

- Về kiểm soát xử lý dữ liệu: Các phần mềm kế toán của DN đều cho phép lập báo cáo kế toán sớm… Qua đó, giúp kế toán kiểm tra được dữ liệu, tính cân đối ngay trong quá trình thực hiện xử lý dữ liệu mà không nhất thiết phải đợi đến cuối kỳ kế toán.

- Về vấn đề an ninh, an toàn dữ liệu: Ở tất cả các DN xây lắp, khảo sát cho thấy đã đảm bảo an toàn dữ liệu thông qua việc quản lý đầu vào hệ thống bằng tên đăng nhập và mật khẩu; 67,4% DN thực hiện phân quyền theo cấp độ sử dụng thông tin; 54,3% DN thực hiện khóa dữ liệu sau khi nhập một thời gian nhất định.

- Về thủ tục để đảm bảo an ninh, an toàn dữ liệu tại các DN: Lưu trữ (backup) số liệu là vấn đề rất quan trọng. Tính bảo mật của dữ liệu được quản lý ngay từ khi dữ liệu được nhập vào hệ thống. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, dữ liệu của hệ thống vẫn có thể bị mất do nhiều nguyên nhân như hỏng ổ cứng, bị nhiễm virus...

Thông thường các phần mềm có thể cho phép lưu trữ số liệu định kỳ hàng tuần. Mỗi khi thoát khỏi chương trình nếu chưa lưu trữ, thì chương trình sẽ nhắc nhở người sử dụng lưu trữ số liệu. Số liệu được lưu trữ dưới dạng các tệp nén bằng chương trình WinZip. Hơn nữa, các phần mềm kế toán còn có chức năng khóa dữ liệu để tăng tính bảo mật, do đó, tính bảo mật của dữ liệu kế toán là tương đối cao.

Ngoài ra, để đảm bảo an toàn dữ liệu, các DN đều có thực hiện sao lưu dữ liệu tại máy chủ, máy trạm, ổ cứng… Tuy nhiên, tại các DN khảo sát vẫn chưa có những quy định cụ thể về bảo mật thông tin, đảm bảo an toàn dữ liệu cho hệt hống TTKT DN.

Giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống thông tin kế toán

Thực trạng trên cho thấy, kiểm soát hệ thống TTKT trong các DN xây lắp niêm yết trên TTCK hiện nay vẫn còn thiếu chặt chẽ, còn có những sai sót và gian lận chưa được phát hiện trong quá trình ghi nhận, xử lý, tổng hợp báo cáo. Vì vậy, hệ thống kiểm soát cần phải được hoàn thiện trên cả 2 hoạt động chính như sau:

Kiểm soát chung

- Kiểm soát truy cập: DN cần thiết phải phân công nhiệm vụ giám sát hệ thống cho một cá nhân độc lập, không tham gia bất cứ một quá trình ghi chép và thực hiện nghiệp vụ nào. Bởi vì, một người truy cập bất hợp pháp, sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ dữ liệu trong công ty. Vì vậy, hàng tháng, giám sát hệ thống lập báo cáo, để đảm bảo không có sự truy cập trái phép vào các phần không liên quan đến công việc; báo cáo về các nghiệp vụ bị xóa, sửa chữa trong kỳ, để thẩm định lại tính đúng đắn của thông tin lưu trữ trong hệ thống, tránh gian lận, sai sót.

- Phân chia chức năng: Cần tách biệt người thiết kế/lập trình và người sử dụng, tách biệt giữa người nhập liệu và quản lý dữ liệu. Phân chia rõ ràng nhiệm vụ của từng người, bộ phận trong hệ thống.

- Kiểm soát lưu trữ: Liên quan đến 2 yếu tố cơ bản, đó là thiết bị lưu trữ và sao lưu dự phòng. Đặc biệt, DN cần quy định rõ ràng, cụ thể đối với các cá nhân; đồng thời, tổ chức kế hoạch về thời gian sao lưu, phương pháp, trách nhiệm trong quá trình sao lưu.

- Tuân thủ quy trình: Quá trình thực hiện các thao tác trên hệ thống cần tuân thủ quy trình đã được xác định. Một chức năng sẽ không thực hiện được, nếu chức năng trước đó không được thực hiện. Do vậy, các bộ phận, phòng ban chức năng cần nắm rõ chức năng nhiệm vụ của mình và thực hiện theo đúng quy trình đã được quy định.

Kiểm soát ứng dụng

- Kiểm soát nguồn dữ liệu và quá trình nhập liệu: Các đoạn mã kiểm tra trình tự nhập liệu cần được viết và tích hợp trong phần mềm kế toán để đảm bảo nhập liệu đầy đủ, chính xác. Các thủ tục kiểm tra nhập liệu bao gồm: Kiểm tra tính tuần tự khi nhập liệu; kiểm tra vùng dữ liệu; kiểm tra dấu (>0 hay <0); kiểm="" tra="" tính="" hợp="" lý;="" kiểm="" tra="" tính="" có="" thực="" của="" nghiệp="" vụ;="" kiểm="" tra="" giới="" hạn;="" kiểm="" tra="" tính="" đầy="" đủ;="" kiểm="" tra="" dung="" lượng="" và="" vùng="" dữ="" liệu;="" định="" dạng="" trước="" khi="" nhập="" liệu…thủ="" tục="" kiểm="" soát="" này="" nhằm="" đảm="" bảo="" dữ="" liệu="" được="" nhập="" vào="" đầy="" đủ,="" hợp="" lệ,="" không="" bị="" trùng="" lặp.="">

- Kiểm soát xử lý: Một mặt, cần thiết đảm bảo các yêu cầu bắt buộc như: Ràng buộc tính toàn vẹn dữ liệu, báo cáo các yếu tố bất thường, kiểm soát về xử lý tự động, xem xét việc thực hiện quy trình xử lý theo quy định… Mặt khác, cần có những quy chuẩn cũng như tăng cường các biện pháp nghiệp vụ, để hoạt động này không chỉ hỗ trợ phát hiện ngăn ngừa các sai sót mà còn kiểm soát gian lận.

Ngoài ra, cũng cần có quy chế thưởng phạt rõ ràng, để ngăn ngừa các hành vi cố tình sai phạm của các nhân viên trực tiếp quản lý tài sản vật chất của đơn vị. Sau khi kiểm kê, DN phải lập báo cáo tổng hợp kết quả kiểm kê. Trường hợp có chênh lệch giữa thực tế và số liệu phản ánh trên sổ kế toán, DN cần xác định rõ nguyên nhân và xử lý trên hệ thống kịp thời trước khi lập báo cáo.

Hoạt động kiểm soát xử lý sẽ giúp kiểm tra sự chính xác của TTKT trong quá trình xử lý số liệu, loại bỏ những yếu tố bất thường, đảm bảo cho hệ thống hoạt động như thiết kế ban đầu.

- Kiểm soát kết quả xử lý: Đảm bảo kết quả xử lý đến đúng đối tượng và kết quả xử lý chính xác. Điều này phụ thuộc vào việc phân quyền khi sử dụng hệ thống, thiết lập các quy định và tăng cường giải pháp an ninh mạng.

Hoạt động này trải qua các thủ tục sau: Xem xét các kết xuất nhằm đảm bảo nội dung thông tin cung cấp phù hợp; Đối chiếu nội dung kết xuất và dữ liệu nhập thông qua các số tổng kiểm soát nhằm đảm bảo tính chính xác của thông tin; Chuyển giao chính xác thông tin đến người sử dụng thông tin; Đảm bảo an toàn cho các kết xuất và những thông tin nhạy cảm của DN; Quy định người sử dụng phải kiểm tra tính chính xác, đầy đủ và trung thực của thông tin; Quy định hủy các thông tin mật sau khi đã kết xuất ra các bản in thử, bản nháp; Tăng cường giải pháp hệ thống mạng trong trường hợp chuyển giao thông tin trên hệ thống mạng máy tính.

Việc tăng cường hoạt động kiểm soát hệ thống TTKT trong DN còn nâng cao vai trò của nhà quản lý, đặc biệt là sự tham gia của nhà quản lý vào hoạt động của hệ thống kế toán. Sự tham gia nhiều và sâu hơn vào hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ DN của các nhà quản lý sẽ có tác dụng hạn chế tần suất xảy ra các gian lận và sai sót trong DN.

Sự đãi ngộ tương xứng cũng như những cơ chế thưởng phạt phù hợp, sẽ là những áp lực khiến cho những rủi ro bị kiểm soát chặt chẽ hơn. Điều đó đồng nghĩa, khả năng thiệt hại tài chính do những vi phạm trong lĩnh vực này giảm đi đáng kể…

- Hoàn thiện công tác quản trị người dùng, bao gồm 3 nội dung chính: Phân chia trách nhiệm, truy cập cơ sở dữ liệu, xác lập quyền sở hữu dữ liệu. Cụ thể:

(i) Việc phân chia trách nhiệm hợp lý và đầy đủ, đòi hỏi phải dựa trên cơ sở phân chia chức năng thiết kế, thực hiện và vận hành trong trung tâm dữ liệu kế toán. Hiện nay, tại một số DN xây lắp, phần mềm có thực hiện phân quyền cho người dùng nhưng do quản lý chưa chặt chẽ nên người quản lý bỏ qua khâu này, làm giảm tính bảo mật thông tin. Điều này, rất không có lợi khi xảy ra các hành động gian lận.

Vì vậy, thời gian tới, DN xây lắp cần phải phân chia trách nhiệm trong các chức năng của hệ thống một cách đầy đủ. Theo đó, cần thiết phải phân chia trách nhiệm truy cập, sử dụng và cập nhật cơ sở dữ liệu. Mỗi kế toán viên chỉ nên được nhập dữ liệu, đọc, chỉnh sửa dữ liệu thuộc phạm vi trách nhiệm của mình.

(ii) Kế toán trưởng có quyền quy định chế độ mật khẩu, truy cập dữ liệu cho từng kế toán viên tương thích với chức năng của mỗi cá nhân trong hệ thống. Đồng thời, hướng dẫn các thủ tục sử dụng mật khẩu để tăng tính hữu hiệu trong việc truy cập, sử dụng và kiểm soát hệ thống.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức Phần mềm kế toán cần tự động ghi nhận được số lần truy nhập, chỉnh, sửa, thêm, xóa dữ liệu trên một tập tin riêng; tập tin này phải được bảo mật tối đa, không được xem, xóa, sửa, được quản lý độc lập với hệ thống. Kế toán trưởng cũng chỉ được xem, in báo cáo từ nội dung của tập tin này.

(iii) Khi sử dụng hệ cơ sở dữ liệu, có những dữ liệu có thể được chia sẻ cho nhiều người dùng hay nhiều ứng dụng khác. Do đó, cần xác lập quyền ưu tiên trong việc sở hữu dữ liệu cho từng hệ thống ứng dụng, từng chức năng hay từng người dùng hệ thống.

- Hoàn thiện công tác bảo mật, an toàn dữ liệu: Trong DN, dữ liệu đóng vai trò vô cùng quan trọng, để cung cấp thông tin cần phải có một hệ thống mạng đủ mạnh. Mạng được sử dụng để chia sẻ thông tin, tài nguyên giữa những người dùng trong DN với những quy mô khác nhau.

Thông thường, dữ liệu sẽ được lưu trữ trên các máy chủ mạng là dữ liệu được bảo mật, chỉ sử dụng cho một tổ chức nhất định. Vì vậy, khả năng của mạng để chống lại sự truy nhập trái phép tới dữ liệu, đó là một vấn đề hết sức quan trọng và mang tính cạnh tranh giữa các DN.

Về bản chất có thể phân loại các hành vi xâm phạm thông tin dữ liệu trên đường truyền tin và mạng truyền tin ra làm 2 loại, đó là vi phạm chủ động và vi phạm thụ động. Vi phạm thụ động thường khó phát hiện nhưng có thể có những biện pháp ngăn chặn hiệu quả, trong lúc các vi phạm chủ động dễ phát hiện nhưng biện pháp ngăn chặn có nhiều phần khó khăn hơn.

Trong thực tế, kẻ vi phạm có thể xâm nhập vào bất kỳ điểm nào mà thông tin đi qua hoặc được lưu giữ. Điểm đó có thể trên đường truyền dẫn, nút mạng, máy tính chủ có nhiều người sử dụng hoặc tại các giao diện kết nối liên mạng. Trong quan hệ tương tác người - máy thì các thiết bị ngoại vi đặc biệt là các thiết bị đầu cuối chính là cửa ngõ thuận lợi nhất cho đối tượng xâm nhập.

Ngoài ra, cũng phải kể đến các loại phát xạ điện từ của các thiết bị điện tử và các máy vi tính. Bằng các thiết bị chuyên dụng có thể đón bắt các phát xạ này và giải mã chúng. Cũng có trường hợp có thể sử dụng các bức xạ được điều khiển từ bên ngoài, để tác động gây nhiễu hoặc gây lỗi nội dung truyền tin.

Các biện pháp an toàn dữ liệu chung cho việc xây dựng các hệ thống cơ sở dữ liệu kế toán: Chống sự truy cập trái phép, xác định người sử dụng, ngăn chặn virus tấn công, bảo đảm an toàn dữ liệu mức vật lý. Các biện pháp trên được thể hiện ở các nội dung sau:

Thứ nhất, thiết lập cơ chế: Cần có những nội quy, quy định cụ thể với phòng máy tính của kế toán:

- Quản lý máy chủ: Mọi thao tác đều nằm trong sự kiểm soát của phụ trách thông qua các cán bộ được giao nhiệm vụ cụ thể;

- Quản lý dữ liệu: Mọi thao tác thực hiện trên dữ liệu phải tuân thủ đúng quy trình và đối tượng phân quyền, thực hiện các hoạt động sao lưu, kiểm tra dữ liệu định kỳ;

- Kiểm tra, kiểm soát, giảm đến mức tối thiểu các hoạt động đưa dữ liệu từ bên ngoài vào hệ thống máy tính bằng các phương tiện khác nhau, giảm thiểu tình trạng lây nhiễm virus.

dịch vụ làm báo cáo tài chính tại Hải Phòng Thứ hai, thiết bị lưu trữ an toàn: Nhằm tránh các sự cố xảy ra, DN có thể sử dụng song song các thiết bị lưu trữ dữ liệu, để thực hiện tối thiểu 3 sao lưu. Một trong số là nên thực hiện sao lưu online (dữ liệu điện toán “đám mây”), để tránh trường hợp thiên tai xảy ra.

Thứ ba, bảo vệ chống virus: Hệ thống máy tính của DN có thể bị nhiễm virus do việc truyền tải dữ liệu qua hệ thống mạng, email, các thiết bị truyền tin… Tình trạng này có thể làm cho hệ thống máy tính bị tê liệt, ảnh hưởng đến công việc của kế toán. Chính vì vậy, DN phải thiết lập một hệ thống diệt virus, thường xuyên cập nhật để phát huy tối đa hiệu quả.

Thứ tư, các biện pháp khác: Thường xuyên bảo trì, nâng cấp hệ thống máy móc thiết bị trong DN, đảm bảo được tốc độ hoạt động của hệ thống máy tính cũng như hệ thống mạng; kiểm tra định kỳ các thiết bị sao lưu dữ liệu; kiểm tra tất cả các thiết bị đang sử dụng, chỉ ra tài khoản lưu trữ đám mây (nếu có) được sử dụng thường xuyên, để đề xuất giải pháp bảo vệ an toàn cho các tài khoản trực tuyến.

Tài liệu tham khảo:

1. Công ty cổ phần MISA (2009), Giáo trình kế toán máy, NXB Văn hóa thông tin;

2. Công ty cổ phần ACMan (2013), Giáo trình kế toán máy ACPro, NXB Lao động;

3. Nguyễn Quang Thông (2009) - Trung tâm Đào tạo công nghệ AVNet, Giáo trình Phân tích, thiết kế thông tin quản lý, NXB Giáo dục;

4. TS. Ngô Hà Tấn, ThS. Nguyễn Hữu Cường (2010), Giáo trình hệ thống thông tin kế toán, NXB Giáo dục.

lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hà đông Theo Tạp chí Tài chính kỳ 2, số tháng 6/2016
[Read More...]


Các loại hóa đơn thông dụng hiện hành



Khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ... người bán có trách nhiệm ghi chép thông tin dưới hình thức hóa đơn theo đúng quy định của pháp luật.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bình dương
Trích Khoản 1 Điều 5 Thông tư 119/2014/TT-BTC - Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 3 Thông tư số 39/2014/TT-BTC:

1. Các loại hóa đơn:

a) Hóa đơn giá trị gia tăng là loại hóa đơn dành cho các tổ chức khai, tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ trong các hoạt động sau:

- Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong nội địa;

- Hoạt động vận tải quốc tế;

- Xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu;

b) Hóa đơn bán hàng dùng cho các đối tượng sau đây:

- Tổ chức, cá nhân khai, tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp khi bán hàng hóa, dịch vụ trong nội địa, xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu

- Tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ vào nội địa và khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan với nhau, trên hóa đơn ghi rõ “Dành cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan”

Ví dụ:

- Doanh nghiệp A là doanh nghiệp khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ vừa có hoạt động bán hàng trong nước vừa có hoạt động xuất khẩu ra nước ngoài. Doanh nghiệp A sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng cho hoạt động bán hàng trong nước và không cần lập hóa đơn GTGT cho hoạt động xuất khẩu ra nước ngoài.

- Doanh nghiệp B là doanh nghiệp khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ vừa có hoạt động bán hàng trong nước vừa có hoạt động bán hàng cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan. Doanh nghiệp B sử dụng hóa đơn GTGT cho hoạt động bán hàng trong nước và cho hoạt động bán hàng vào khu phi thuế quan.

- Doanh nghiệp C là doanh nghiệp chế xuất bán hàng vào nội địa và bán hàng hóa ra nước ngoài (ngoài lãnh thổ Việt Nam) thì sử dụng hóa đơn bán hàng khi bán vào nội địa, trên hóa đơn ghi rõ “Dành cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan”; khi bán hàng hóa ra nước ngoài (ngoài lãnh thổ Việt Nam), doanh nghiệp C không cần lập hóa đơn bán hàng.

- Doanh nghiệp D là doanh nghiệp khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp, khi bán hàng hóa, dịch vụ trong nước, cho khu phi thuế quan, doanh nghiệp D sử dụng hóa đơn bán hàng. Khi xuất hàng hóa ra nước ngoài, doanh nghiệp D không cần lập hóa đơn bán hàng.

c) Hóa đơn khác gồm: tem; vé; thẻ; phiếu thu tiền bảo hiểm…

d) Phiếu thu tiền cước vận chuyển hàng không; chứng từ thu cước phí vận tải quốc tế; chứng từ thu phí dịch vụ ngân hàng…, hình thức và nội dung được lập theo thông lệ quốc tế và các quy định của pháp luật có liên quan.”

Theo hướng dẫn tại Thông tư 39/2014/TT-BTC (hiệu lực thi hành từ 1/6/2014), không còn quy định về hóa đơn xuất khẩu, do đó, khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ ra nước ngoài, sử dụng hóa đơn GTGT (đối với đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ) và hóa đơn bán hàng (đối với đối tượng nộp thuế theo phương pháp trực tiếp).

Từ ngày 1/6/2014, cơ quan thuế không tiếp nhận Thông báo phát hành hóa đơn xuất khẩu.

Trường hợp các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh chưa sử dụng hết các số hóa đơn xuất khẩu đã đặt in và thực hiện Thông báo phát hành theo hướng dẫn tại Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010, Thông tư số 64/2013/TT-BTC ngày 15/5/2013 của Bộ Tài chính và vẫn có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì đăng ký số lượng hóa đơn xuất khẩu còn tồn và gửi đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất là ngày 31/7/2014 (Mẫu số 3.12 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư).

Từ ngày 01/8/2014, các số hóa đơn xuất khẩu còn tồn đã đăng ký được tiếp tục sử dụng. Các số hóa đơn xuất khẩu chưa đăng ký hoặc đăng ký sau ngày 31/7/2014 không có giá trị sử dụng. Doanh nghiệp thực hiện huỷ hóa đơn xuất khẩu theo hướng dẫn tại Điều 29 của Thông tư và sử dụng hóa đơn GTGT, hóa đơn bán hàng cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ ra nước ngoài.

lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải phòng 2.  Hình thức hóa đơn.

Hóa đơn được thể hiện bằng các hình thức sau:

a) Hóa đơn tự in là hóa đơn do các tổ chức kinh doanh tự in ra trên các thiết bị tin học, máy tính tiền hoặc các loại máy khác khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

b) Hóa đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý theo quy định tại Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành;

c) Hóa đơn đặt in là hóa đơn do các tổ chức đặt in theo mẫu để sử dụng cho hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, hoặc do cơ quan thuế đặt in theo mẫu để cấp, bán cho các tổ chức, hộ, cá nhân.
(Xem thêm: Thủ tục đặt in hóa đơn GTGT)

4. Các chứng từ được in, phát hành, sử dụng và quản lý như hóa đơn gồm phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý (mẫu số 5.4 và 5.5 Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư 39/2014/TT-BTC).
dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại hà đông Tổng hợp
[Read More...]


Quy định về thời gian lưu trữ hóa đơn, chứng từ kế toán



Tài liệu kế toán phải được đơn vị kế toán bảo quản đầy đủ, an toàn trong quá trình sử dụng và lưu trữ. Luật kế toán có quy định cụ thể từng loại tài liệu kế toán phải lưu trữ, thời hạn lưu trữ, thời điểm tính thời hạn lưu trữ, nơi lưu trữ và thủ tục tiêu huỷ tài liệu kế toán lưu trữ.

Theo điều 40 Luật kế toán:

Chứng từ kế toán được đưa vào lưu trữ phải bản chính (bản gốc) và phải đưa vào lưu trữ trong thời hạn mười hai tháng, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm hoặc kết thúc công việc kế toán.

1. Chứng từ phải lưu trữ tối thiểu 5 năm gồm: 

- Tài liệu kế toán dùng cho quản lý, điều hành thường xuyên của đơn vị kế toán không sử dụng trực tiếp để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính được lưu trữ tối thiểu 5 năm tính từ khi kết thúc kỳ kế toán năm như phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho không lưu ở tập chứng từ của phòng kế toán.

2. Chứng từ kế toán phải lưu trữ tối thiểu 10 năm, gồm: 

-  Chứng từ kế toán sử dụng trực tiếp để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính, các bảng kê, bảng tổng hợp chi tiết, các sổ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng hợp, các báo cáo tài chính tháng, quý, năm, báo cáo quyết toán, biên bản tiêu huỷ tài liệu kế toán lưu trữ và tài liệu khác có liên quan đến ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.

-  Tài liệu kế toán liên quan đến thanh lý tài sản cố định, báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành của Ban quản lý dự án,  liên quan đến thành lập, chia, tách, sáp nhập, chấm dứt hoạt động của đơn vị kế toán. hồ sơ kiểm toán của cơ quan Kiểm toán Nhà nước.

3. Chứng từ kế toán phải lưu trữ vĩnh viễn gồm:

1. Báo cáo tổng quyết toán ngân sách nhà nước năm đã được Quốc hội phê chuẩn.

2. Hồ sơ, báo cáo quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản dự án thuộc nhóm A.

3. Tài liệu kế toán khác có tính sử liệu, có ý nghĩa quan trọng về kinh tế, an ninh, quốc phòng.

Việc xác định tài liệu kế toán khác phải lưu trữ vĩnh viễn do người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán, do ngành hoặc địa phương quyết định trên cơ sở xác định tính chất sử liệu, ý nghĩa quan trọng về kinh tế, an ninh, quốc phòng. Thời hạn lưu trữ vĩnh viễn phải là thời hạn lưu trữ từ 10 năm trở lên cho đến khi tài liệu kế toán bị huỷ hoại tự nhiên hoặc được tiêu huỷ theo quyết định của người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán.

Công việc kế toán trong trường hợp tài liệu kế toán bị mất hoặc bị huỷ hoại

Khi phát hiện tài liệu kế toán bị mất hoặc bị huỷ hoại, đơn vị kế toán phải thực hiện ngay các công việc sau đây:

1. Kiểm tra, xác định và lập biên bản về số lượng, hiện trạng, nguyên nhân tài liệu kế toán bị mất hoặc bị huỷ hoại và thông báo cho tổ chức, cá nhân có liên quan và cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

2. Tổ chức phục hồi lại tài liệu kế toán bị hư hỏng;

3. Liên hệ với tổ chức, cá nhân có giao dịch tài liệu, số liệu kế toán để được sao chụp hoặc xác nhận lại tài liệu kế toán bị mất hoặc bị huỷ hoại;

4. Đối với tài liệu kế toán có liên quan đến tài sản nhưng không thể phục hồi bằng các biện pháp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này thì phải kiểm kê tài sản để lập lại tài liệu kế toán bị mất hoặc bị huỷ hoại.

Xử phạt vi phạm lưu trữ tài liệu kế toán:

Hiện nay việc xử phạt đang được quy định tại nghị định 105/2013/NĐ-CP. Cụ thể mức phạt được quy định tại điều 12 như sau:

Điều 12. Xử phạt hành vi vi phạm quy định về bảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán

1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Đưa tài liệu kế toán vào lưu trữ chậm quá 12 tháng so với thời hạn quy định;

b) Lưu trữ tài liệu kế toán không đầy đủ theo quy định;

c) Bảo quản tài liệu kế toán không an toàn, để hư hỏng, mất mát tài liệu trong thời hạn lưu trữ.

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Sử dụng tài liệu kế toán trong thời hạn lưu trữ không đúng quy định;

b) Không thực hiện việc tổ chức kiểm kê, phân loại, phục hồi tài liệu kế toán bị mất mát hoặc bị hủy hoại.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Hủy bỏ tài liệu kế toán khi chưa hết thời hạn lưu trữ theo quy định;

b) Tiêu hủy tài liệu kế toán không thành lập Hội đồng tiêu hủy, không thực hiện đúng phương pháp tiêu hủy và không lập biên bản tiêu hủy theo quy định.

Nếu các bạn làm mất hóa đơn thì phải thực hiện theo quy định về hóa đơn chứng từ được hướng dẫn tại TT 39/2014/TT-BTC và xử lý vi phạm theo TT 10/2014/TT-BTC. Chi tiết các bạn tham khảo tại đây: Xử lý mất hóa đơn - Mức phạt

Lưu ý: 

- Chứng từ kế toán đã hết thời hạn lưu trữ theo quy định, nếu không có chỉ định nào khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được phép tiêu huỷ theo quyết định của người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán.

- Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị để thực hiện tiêu huỷ tài liệu kế toán bằng các hình thức tiêu huỷ tự chọn. Đối với tài liệu kế toán thuộc loại bí mật thì tiêu huỷ bằng cách đốt cháy, cắt, xé nhỏ bằng máy hoặc bằng thủ công bảo đảm tài liệu kế toán đã tiêu huỷ sẽ không thể sử dụng lại được các thông tin, số liệu trên đó.

-Thủ tục tiêu huỷ tài liệu kế toán được quy định như sau:

1. Người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán quyết định thành lập "Hội đồng tiêu huỷ tài liệu kế toán hết thời hạn lưu trữ". Thành phần Hội đồng gồm có: lãnh đạo đơn vị, kế toán trưởng và đại diện của bộ phận lưu trữ.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng 2. Hội đồng tiêu huỷ tài liệu kế toán phải tiến hành kiểm kê, đánh giá, phân loại theo từng loại tài liệu kế toán, lập "Danh mục tài liệu kế toán tiêu huỷ" và "Biên bản tiêu huỷ tài liệu kế toán hết thời hạn lưu trữ".

3. "Biên bản tiêu huỷ tài liệu kế toán hết thời hạn lưu trữ" phải lập ngay sau khi tiêu huỷ tài liệu kế toán và phải ghi rõ các nội dung: loại tài liệu kế toán đã tiêu huỷ, thời hạn lưu trữ của mỗi loại tài liệu kế toán, hình thức tiêu huỷ, kết luận và chữ ký của các thành viên Hội đồng tiêu hủy.

Nơi lưu trữ tài liệu kế toán

1. Tài liệu kế toán của đơn vị kế toán được lưu tại kho lưu trữ của đơn vị đó. Kho lưu trữ tài liệu kế toán phải bố trí gần địa bàn nơi đơn vị đóng trụ sở, phải có đầy đủ thiết bị bảo quản và điều kiện bảo quản bảo đảm an toàn trong quá trình lưu trữ theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp đơn vị kế toán không tổ chức bộ phận hoặc kho lưu trữ tại đơn vị thì phải thuê tổ chức, cơ quan lưu trữ tài liệu kế toán trên cơ sở ký kết hợp đồng lưu trữ theo quy định của pháp luật.

3. Tài liệu kế toán của các kỳ kế toán năm đang còn trong thời hạn lưu trữ của đơn vị kế toán bị chia, tách, sáp nhập được lưu trữ tại đơn vị mới thành lập. Trường hợp tài liệu kế toán của đơn vị kế toán bị chia, tách không phân chia được cho các đơn vị mới thì lưu trữ lại đơn vị bị chia, bị tách hoặc lưu trữ tại nơi theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền quyết định chia, tách.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại thủ đức

4. Tài liệu kế toán của đơn vị chấm dứt hoạt động gồm tài liệu kế toán của kỳ kế toán năm đang còn trong thời hạn lưu trữ và tài liệu kế toán liên quan đến chấm dứt hoạt động lưu trữ tại nơi theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền quyết định chấm dứt hoạt động.

5. Tài liệu kế toán về an ninh, quốc phòng và tài liệu lưu trữ vĩnh viễn phải đưa vào lưu trữ theo quy định của pháp luật.
[Read More...]


Hải quan TP.HCM: Ngăn chặn thiết bị nghe lén qua đường hàng không



Trong thời gian vừa qua, Chi cục Hải quan Chuyển phát nhanh – Cục Hải quan TP.HCM đã phát hiện nhiều trường hợp nhập khẩu hàng hóa là đồ tiêu dùng thiết yếu phục vụ trực tiếp sinh hoạt hàng ngày nhưng trong đó lại tích hợp các thiết bị quay phim, ghi âm, chụp hình lén hết sức tinh vi.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải dương
Cục Hải quan TP.HCM giới thiệu các thiệt bị nghe lén NK qua đường hàng không cho lãnh đạo UBND TP.HCM. Ảnh: T.Hòa

Ngăn chặn từ cửa khẩu

Theo Cục Hải quan TP.HCM, mặc các thiết bị ghi âm, nghe lén nhập khẩu không thuộc danh mục hàng cấm, nhưng đơn vị đã chủ động kiểm tra, phát hiện những tác động xấu của thiết bị này có thể gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị quốc gia, an toàn xã hội…để báo cáo với cơ quan chức năng.

Theo ông Hoàng Đức Thắng, Đội trưởng Đội Thủ tục XNK 2- Chi cục Hải quan Chuyển phát nhanh cho biết, cuối tháng 5-2014, một doanh nghiệp bán hàng qua mạng vừa nhập khẩu về lô hàng gồm 200 cây bút, qua kiểm tra đơn vị phát hiện số bút này có chức năng sau khi viết nội dung trên giấy chỉ cần dùng nhiệt hơ trên giấy hoặc dùng đầu xóa ở đầu bút là toàn bộ chữ viết trên giấy biến mất mà không để lại một dấu tích nào.

Tuy nhiên, sau khi lãnh đạo doanh nghiệp này được cơ quan Hải quan thông báo về chức năng của các cây bút, doanh nghiệp đã chủ động xin tái xuất toàn bộ lô hàng.



những thiết bị nghe lén, quay phim ngụy trang bang những đồ dung cá nhân.

Cuối năm 2013, qua kiểm tra lô hàng quà biếu nhập khẩu qua đường hàng không của bà N.T.P (Vũng Tàu), Chi cục Hải quan Chuyển phát nhanh đã phát hiện có bộ chìa khóa xe ôtô trong đó có tích hợp thiết bị quay, ghi âm, chụp hình lén. Trước đó, ngày 12-12, đơn vị cũng đã phát hiện đồng hồ đeo tay có tích hợp thiết bị quay, ghi âm, chụp hình lén trong lô hàng nhập khẩu gửi cho người nhận là một cá nhân cư trú tại quận 3-TP.HCM.

Ngoài 2 lô hàng trên, trước đó, Chi cục Hải quan Chuyển phát nhanh cũng đã kiểm tra và phát hiện nhiều cá nhân nhập khẩu hàng hóa có tích hợp thiết bị quay, ghi âm, chụp hình lén, như: dao cạo râu, bàn chải đánh răng, chai dầu gội đầu hiệu ADIDAS có xuất xứ Hong Kong. Bên cạnh đó, các mặt hàng là móc quần áo, cây bút bi, cục sạc điện thoại trong đó cũng tích hợp các thiết bị có chức năng quay phim, chụp hình, ghi âm và một số chức năng khác.

Chưa có chính sách quản lý

Theo ông Nguyễn Hữu Nghiệp, Phó Cục trưởng Cục Hải quan TP.HCM, các thiết bị ghi âm, ghi hình dạng siêu nhỏ được ngụy trang dưới dạng những chiếc nút áo, cây bút viết, bàn chải đánh răng, chai dầu gội đầu… nhằm mục đích thực hiện việc ghi âm, ghi hình mà không bị phát hiện hoặc phát hiện máy nghe lén, quay lén, thông qua việc đo cường đội tín hiệu tấn số vố tuyến.

lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại đống đa
Theo quy định hiện hành về quản lý XNK tại Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23-1-2006 của Chính phủ cũng như các bộ quản lý chuyên ngành thì những mặt hàng nói trên không thuộc đối tượng bị cấm nhập khẩu, nhập khẩu phải có giấy phép.

Những mặt hàng này rất nhạy cảm có thể được sử dụng cho những mục đích xấu, có thể gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Nhưng hiện chưa có quy định về việc cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu hay XNK có điều kiện đối với mặt hàng này.

Chi cục trưởng Chi cục Hải quan Chuyển phát nhanh Lê Đình Thuật cho biết, các thiết bị ghi âm, nghe lén rất nhỏ gọn, thoạt nhìn rất khó phát hiện được các tính năng của nó. Về bản chất thì tất cả hàng hóa trên đều sản xuất tích hợp từ 2 chức năng trở lên, chức năng theo hình dáng, tên gọi thông thường chỉ là che đậy cho chức năng chính – lén lút quay, chụp hình, ghi âm.

Về chính sách chế độ hiện hành đối với các mặt hàng này thì chưa thuộc các danh mục mặt hàng thuộc diện cấm nhập hoặc nhập khẩu có điều kiện, vẫn được nhập khẩu bình thường sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế. Tuy nhiên, việc cho lưu thông rộng rãi không quản lý các sản phẩm này trên thị trường có thể gây ảnh hưởng lớn đến trật tự an toàn xã hội.

Theo thông tin cảnh báo việc tội phạm sử dụng các thiết bị này vào các mục đích xấu, nghiêm trọng hơn là việc tội phạm có thể sử dụng các thiết bị này ghi lại những hình ảnh nhạy cảm hoặc các bí mật cá nhân để tống tiền hay các mục đích khác làm ảnh hưởng đến các mối quan hệ con người, ảnh hưởng an ninh trật tự an toàn xã hội.

Với những mối nguy hại tiềm ẩn nêu trên, Cục Hải quan TP.HCM đã báo cáo Tổng cục Hải quan đề xuất quản lý chặt chẽ đối với những mặt hàng trên, các ngành chức năng đưa cần đưa các mặt hàng này vào diện nhập khẩu có điều kiện…
dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại long biên
Nguồn Báo Hải Quan

[Read More...]


Nguyên nhân nào khiến giá cá tra sụt giảm?



Theo Hiệp hội Cá tra Việt Nam (VN Pangasius), giá cá tra nguyên liệu trong 6 tháng đầu năm 2014 không ổn định. Những tháng đầu năm 2014, giá cá nguyên liệu có xu hướng tăng và có mức giá cao nhất vào tháng 4 dao động từ 25.000 – 25.700 đồng/kg, sau đó giảm dần đến hiện nay với giá dao động từ 20.500 – 22.000 đồng/kg.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức
Giá cá tra nguyên liệu 6 tháng đầu năm 2014 cao hơn so với năm 2013 ở mức từ 650 – 4.050 đồng/kg (mức tăng từ 3,2% - 18,7%). Mức cao nhất tập trung vào giữa tháng 3 và tháng 4. Giá cá nguyên liệu năm 2014 cao hơn năm 2013 do cơ cấu trong chi phí giá thành sản xuất tăng lên như thức ăn, con giống, thuốc thủy sản và các chi phí khác có liên quan.

VN Pangasius nhận định diễn biến giá cá tra nguyên liệu trong những tháng đầu năm 2014 không ổn định do một số tác nhân.

Thứ nhất là việc mở rộng XK ở các thị trường lớn như châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản… gặp nhiều khó khăn do nền kinh tế tăng trưởng chậm và bị khống chế bởi các rào cản kỹ thuật, thuế chống bán phá giá… áp đặt ngày càng khắt khe. Cụ thể, kết quả cuối cùng POR9 của Mỹ vào tháng 3-2014, trong kết quả này chỉ có 1 DN hưởng thuế xuất bằng 0%.

Tác động từ POR của Mỹ đã ảnh hưởng một phần đến giá cá nguyên liệu, sau mỗi lần công bố kết quả cuối cùng POR vào cuối tháng 3 hàng năm thì sau đó khoảng 1 đến 2 tháng (vào tháng 5 và 6) thì giá cá có xu hướng giảm xuống (diễn biến này có sự lặp lại từ năm 2011 đến 2014).

lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại bình dương Tác nhân thứ hai làm giá XK không tăng và có xu hướng giảm do bị khách hàng NK ép giá và DN trong ngành phá giá từ sau khi diễn ra Hội chợ Boston ở Mỹ (16-3-2014), Hội chợ Brussels ở Bỉ (6-5-2014). Một số DN trong ngành cạnh tranh không lành mạnh, phá giá bán sản phẩm, khi đó trở lại hạ giá thu mua cá tra nguyên liệu nhằm đảm bảo lợi nhuận cho DN và hiện trạng là giá cá có xu hướng giảm thấp xảy ra vào tháng 5, 6, 7 trong nhiều năm nay.

Bên cạnh đó, do ảnh hưởng tình hình biển Đông diễn ra trong vài tháng gần đây, tuy không ảnh hưởng lớn đối với ngành do thị trường Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 6% giá trị XK nhưng đã tác động một phần nào đến các thị trường NK cá tra Việt Nam khác trên thế giới, làm cho các DN càng thêm khó khăn.

Khó khăn kéo dài từ các năm qua nên đã làm cho một số DN đến nay gần như cạn kiệt, thiếu vốn hoạt động, mang nợ xấu nên khó tiếp cận được nguồn vốn tính dụng để hoạt động sản xuất. Một số ít DN còn giữ được tăng trưởng còn lại đều sụt giảm sản lượng, sản xuất cầm chừng …

Từ các dữ liệu trên, VN Pangasius nhận định giá cá tra nguyên liệu biến động là do yếu tố cung cầu của thị trường XK và hiện trạng này cũng diễn ra trong nhiều năm nay, Nghị định 36/2014/NĐ-CP không phải là nguyên nhân làm sụt giảm giá cả hiện nay.
dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty giá rẻ tại quận ba đình Nguồn Báo Hải Quan

[Read More...]


Thông tư 32/2014/TT-BTC v/v thay đổi mẫu bảng kê nộp tiền vào NSNN



Từ 01/05/2014, mẫu Bảng kê giấy nộp tiền vào NSNN (Mẫu số C1-06/NS), Bảng kê thu tiền phạt (Mẫu số 02/BKTP), Bảng kê chứng từ nộp ngân sách (Mẫu số 04/BK-CTNNS) sẽ được áp dụng theo Thông tư 32/2014/TT-BTC. ( LƯU Ý: Các mẫu mới trong thông tư 32 chỉ áp dụng giữa NH TW và NH TM, không áp dụng cho doanh nghiệp.)
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc giang
Theo Thông tư này, thời điểm “cut off time”: là thời điểm tạm ngừng truyền, nhận chứng từ thanh toán trong ngày để đối chiếu số liệu thanh toán trong ngày giữa Kho bạc Nhà nước (KBNN) và ngân hàng thương mại (NHTM) nơi KBNN mở tài khoản. Thời điểm “cut off time” được quy định là 16 giờ hàng ngày làm việc. Trường hợp cần thiết kéo dài thời gian giao dịch của ngày làm việc, KBNN chủ trì phối hợp với NHTM để thống nhất thời điểm “cut off time” của ngày làm việc đó.

Ngoài các nội dung chủ yếu trên chứng từ thu NSNN theo quy định của Bộ Tài chính, cơ quan, tổ chức thu có thể tạo thêm thông tin về mã vạch, hình nền biểu tượng (lô-gô) của cơ quan, tổ chức thu; các thông tin tạo thêm phải đảm bảo phù hợp với pháp luật hiện hành, không che khuất, làm mờ các nội dung chủ yếu phải có trên chứng từ thu NSNN.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại đống đa
Đó là một số nội dung mới tại Thông tư 32/2014/TT-BTC sửa đổi Thông tư 85/2011/TT-BTC hướng dẫn quy trình tổ chức phối hợp thu ngân sách nhà nước.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/05/2014.
dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty giá rẻ tại quận hoàng mai
Nguồn Web Kế Toán

[Read More...]


Phá vỡ những rào cản để giao thương



Ngày 21/5, Khối Nghiên cứu Kinh tế của Ngân hàng HSBC đã đưa ra báo cáo vĩ mô của Việt Nam, với chủ đề "Sản xuất tại Việt Nam: phá vỡ những rào cản để giao thương".

Theo HSBC, Việt Nam đang cố gắng phát triển để thoát đói nghèo, và thương mại là tấm vé giúp Việt Nam rút ra khỏi danh sách các quốc gia có thu nhập trung bình thấp.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại biên hòa
Việt Nam cần đầu tư vào dịch vụ logistics, chuỗi cung ứng và cơ sở hạ tầng để tạo được năng lực cạnh tranh

Đã có thời gian khổ sở với nạn đói, nhưng giờ đây Việt Nam hiện là một nước xuất khẩu ròng về lương thực và là quốc gia định giá cho nhiều loại nông sản trên thị trường toàn cầu, từ mặt hàng gạo đến cà phê. Ngay cả trong lĩnh vực sản xuất, Việt Nam cũng đang giành được thị phần toàn cầu, với nhãn mác gắn tên “Sản xuất tại Việt Nam” (“Made in Vietnam”) ngày càng phổ biến ở các trung tâm mua sắm trên toàn cầu.

Mặt hàng dệt và may mặc là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn nhất của Việt Nam và giá trị xuất khẩu sang thị trường châu Âu chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Châu Âu hiện áp dụng mức thuế 12% lên mặt hàng quần áo và vải vóc của Việt Nam. Trong khi châu Âu và Mỹ là những khách hàng quan trọng của Việt Nam, xuất khẩu hàng may mặc đến những thị trường này phải đối mặt với nhiều hạn chế hơn so với Nhật và những thị trường khác.

Điều này buộc các nhà sản xuất Việt Nam phải đa dạng hoá. Hiệp định FTA sẽ giảm các mức thuế suất và theo như nghiên cứu của WTO, hiệp định sẽ có thể tăng tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu ở những mặt hàng áo vest nam nữ, áo khoác và áo dệt kim lên hơn 20%.

Bên cạnh đó, giày dép cũng là mặt hàng chủ lực khác ở Việt Nam chiếm 6% tổng kim ngạch xuất khẩu. Ở châu Âu, Việt Nam là nước xuất khẩu quan trọng đứng thứ nhì sau Trung Quốc. Hầu hết các mặt hàng giày dép xuất khẩu là sản phẩm chất lượng cao được sản xuất cho các nhãn hàng của Mỹ và châu Âu.

Trong năm 2005, châu Âu đã áp dụng các mức thuế chống phá giá đối với Việt Nam. Mức thuế suất trung bình cho giày dép nhập khẩu từ Việt Nam là 12,4%. Thuế suất cho giày dép da nhập khẩu là 17% đã bao gồm chống phá giá. Mức thuế suất chống phá giá đã hết hiệu lực vào tháng 4.2011.

Trong suốt quá trình này, Việt Nam đã đánh mất thị phần và chuyển hoạt động xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Vòng đàm phán thứ bảy của Hiệp định FTA Việt Nam và châu Âu đã kết thúc vào tháng 3.2014. Hiệp định FTA với châu Âu sớm nhất được kỳ vọng sẽ thông qua vào cuối năm 2014. Việt Nam chính thức trở thành một thành viên của Hiệp định TPP vào tháng 11.2010. Hiệp định TPP hiện tại có 12 thành viên.

Việt Nam có thể là quốc gia chiến thắng lớn nhất trong đàm phán TPP12 bởi nguyên nhân chính là Việt Nam chưa ký kết hiệp định FTA với Mỹ. Ngoại trừ Brunei, Malaysia, Nhật Bản và New Zealand, tất cả những quốc gia khác trong TPP12 đều đã ký kết hiệp định FTA với Mỹ và đã được hưởng các mức thuế suất song phương thấp.

Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đối mặt với mức thuế suất nhập khẩu tương đối cao của Mỹ từ mức 4,5% đến 14% cho hàng may mặc và 10,4% đối với hàng giày dép. Một khi được áp dụng, Hiệp định TPP sẽ giảm các mức thuế nhập khẩu của Mỹ đối với các sản phẩm của Việt Nam, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của quốc gia.



lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại thủ đức Việt Nam đã thực sự trở thành một trong những nền kinh tế chú trọng về thương mại nhất trên thế giới, với kim ngạch xuất khẩu chiếm 77% GDP vào năm 2013, tăng từ mức 46% vào năm 2001. Tất cả điều này có được là nhờ vào tự do hoá thương mại kể từ đầu những năm 1990 đã giúp loại bỏ các rào cản, cả thuế quan và phi thuế quan.

Việt Nam tham gia các buổi đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), một khối thương mại có thể đại diện cho 40% GDP thế giới. Nếu đàm phán hiệp định thành công, xuất khẩu hàng hoá sản xuất của Việt Nam đến năm 2025 có thể sẽ tăng trưởng hai con số. Chính phủ đang đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) Việt Nam và châu Âu mà kết quả có thể sẽ giảm thuế đối với mặt hàng may mặc.

Nhưng theo HSBC, chiến lược hiện tại của Việt Nam phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực lao động không bền vững. Nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ giảm dần trong khi tiền lương lao động chắc chắn sẽ tăng lên. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đa phần vẫn là nguyên vật liệu thô và các mặt hàng sản xuất có giá trị gia tăng thấp.

Chính vì vậy, nhân tố đóng vai trò thay đổi đối với năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Việt Nam là phải giải quyết với những kẻ thù từ bên trong: cơ sở hạ tầng cho dịch vụ logistics còn nghèo nàn, quản trị chuỗi cưng ứng kém và các thủ tục thương mại rườm rà.

Những hoạt động cải thiện đang được xúc tiến đối với các hành lang vận chuyển, thủ tục hải quan, chuỗi cung ứng cho sản xuất và nông nghiệp sẽ giúp Việt Nam nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp đã qua chế biến và hàng hoá sản xuất, hàng hóa có thêm năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Điều quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của Việt Nam sẽ là đầu tư vào dịch vụ logistics, chuỗi cung ứng và cơ sở hạ tầng.
dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty giá rẻ tại hải dương Nguồn Báo Đầu Tư
[Read More...]


TRUNG TÂM KẾ TOÁN HÀ NỘI

Đào tạo kế toán thực hành trên chứng từ thực tế - Cung cấp dịch vụ kế toán trọn gói uy tín chuyên nghiệp giá rẻ - Hỗ trợ Dịch vụ thành lập công ty giá rẻ trên toàn quốc
Return to top of page